Vitamin C

Nhấp vào bên dưới để đánh giá!
[Total: 0 Average: 0]

Vitamin C là một chất dinh dưỡng quan trọng đối với sức khỏe. Nó giúp hình thành và duy trì xương, da và mạch máu. Nó cũng là một chất chống oxy hóa.

Vitamin C là gì?

Vitamin C (còn được gọi là axit ascorbic và ascorbate) là một loại vitamin được tìm thấy trong các loại thực phẩm khác nhau và được bán dưới dạng thực phẩm chức năng. Nó được sử dụng để ngăn ngừa và điều trị bệnh còi. Vitamin C là chất dinh dưỡng thiết yếu tham gia vào quá trình sửa chữa mô và sản xuất enzyme của một số chất dẫn truyền thần kinh. Nó cần thiết cho hoạt động của một số enzym và quan trọng đối với chức năng của hệ miễn dịch. Nó cũng hoạt động như một chất chống oxy hóa.

Có một số bằng chứng cho thấy việc sử dụng chất bổ sung thường xuyên có thể làm giảm thời gian bị cảm lạnh thông thường , nhưng nó không có vẻ ngăn ngừa nhiễm trùng. Không rõ liệu việc bổ sung có ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư , bệnh tim mạch hoặc sa sút trí tuệ hay không. Nó có thể được dùng bằng đường uống hoặc đường tiêm.

Vitamin C

Vitamin C thường được dung nạp tốt. Liều lượng lớn có thể gây khó chịu đường tiêu hóa, nhức đầu, khó ngủ và da đỏ bừng. Liều thông thường là an toàn khi mang thai. Viện Y học Hoa Kỳ khuyến cáo không nên dùng liều lượng lớn.

Vitamin C được phát hiện vào năm 1912, được phân lập vào năm 1928, và vào năm 1933, là loại vitamin đầu tiên được sản xuất bằng phương pháp hóa học. Nó nằm trong Danh sách Thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế Thế giới. Vitamin C có sẵn như là một không tốn kém generic và over-the-counter thuốc. Một phần vì phát hiện ra nó, Albert Szent-Gyorgyi và Walter Walter Haworth đã được trao năm 1937 Giải thưởng Nobel trong Sinh lý học và Y học và Hóa học, tương ứng. Thực phẩm chứa vitamin C bao gồm trái cây họ cam quýt, quả kiwi, ổi, bông cải xanh, cải Brussels, ớt chuông và dâu tây. Bảo quản hoặc nấu nướng trong thời gian dài có thể làm giảm hàm lượng vitamin C trong thực phẩm.

Lợi ích sức khỏe của Vitamin C

Một tình trạng mà vitamin C có thể điều trị dứt điểm là thiếu hụt vitamin C. Theo nghiên cứu từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), ước tính có khoảng 7,1% dân số Hoa Kỳ có thể được phân loại là thiếu vitamin C. Những người bị thiếu hụt vitamin C trong chế độ ăn uống nghiêm trọng có thể phát triển bệnh còi, đặc trưng bởi bầm tím, chảy máu nướu răng, suy nhược, mệt mỏi và phát ban.

Ngoài sự thiếu hụt đã biết, một số người tin rằng vitamin C có thể hỗ trợ điều trị hoặc phòng ngừa nhiều bệnh, bao gồm cảm lạnh, hen suyễn, viêm phế quản, ung thư, đau mãn tính, đục thủy tinh thể, viêm dạ dày, tăng nhãn áp, bệnh tim, huyết áp cao, viêm xương khớp, và bệnh Parkinson.

Mặc dù bằng chứng ủng hộ những tuyên bố này nhìn chung còn yếu, nhưng đã có một số phát hiện đầy hứa hẹn trong những năm gần đây.

Cảm lạnh thông thường

Lợi ích của vitamin C trong việc chống lại cảm lạnh thông thường được phỏng đoán nhiều hơn là đã được chứng minh bằng nghiên cứu. Theo một đánh giá năm 2007 về một số nghiên cứu liên quan đến 11.306 người tham gia, bổ sung vitamin C không làm gì để giảm tỷ lệ cảm lạnh ở những người tham gia so với dân số chung.

Các tác giả lưu ý rằng vitamin C có thể có lợi cho các vận động viên biểu diễn hoặc những người sống ở vùng có khí hậu cực kỳ lạnh giá.

Mất thị lực

Có một số bằng chứng cho thấy bổ sung vitamin C có thể làm chậm sự tiến triển của bệnh thoái hóa điểm vàng, một chứng rối loạn mắt liên quan đến lão hóa, đặc trưng bởi mất thị lực.

Một nghiên cứu năm 2001 trên Archives of Ophthalmology báo cáo rằng những người có nguy cơ mắc bệnh cao uống 500mg vitamin C mỗi ngày, cùng với beta-carotene, vitamin E và kẽm, đã làm chậm sự tiến triển của bệnh thoái hóa điểm vàng tới 25% và giảm thị lực 15%.

Huyết áp cao

Lợi ích của vitamin C trong điều trị tăng huyết áp (huyết áp cao) đã được quảng cáo từ lâu, mặc dù tác dụng thực tế gần như không mạnh mẽ như người ta từng nghĩ.

Trong khi các nhà khoa học vẫn chưa xác định được lý do tại sao lại như vậy, người ta cho rằng vitamin C liều cao có tác dụng lợi tiểu nhẹ , thúc đẩy loại bỏ chất lỏng dư thừa ra khỏi cơ thể. Điều này có thể giúp giảm áp lực trong mạch máu của bạn.

Bệnh tim và ung thư

Vitamin C thường được ca tụng một cách sai lầm về khả năng chống lại bệnh tim và ung thư. Phần lớn sự ngộ nhận đã được thúc đẩy bởi các đặc tính chống oxy hóa của vitamin C.

Trong khi chất chống oxy hóa dường như làm giảm căng thẳng oxy hóa liên quan đến các bệnh này, có rất ít hoặc không có bằng chứng cho thấy bổ sung vitamin C có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nguy cơ.

Trong số các phát hiện lâm sàng:

  • Một nghiên cứu kéo dài 10 năm với 14.641 nam giới trên 50 tuổi cho thấy liều 500mg vitamin C không làm thay đổi tỷ lệ đau tim hoặc đột quỵ so với giả dược.
  • Một nghiên cứu kéo dài 9 năm với 8.171 phụ nữ lớn tuổi đã chứng minh rằng 500mg vitamin C không có tác động đến tỷ lệ ung thư so với dân số nói chung.
  • Một nghiên cứu kéo dài 5 năm với 77.721 đàn ông và phụ nữ lớn tuổi cũng cho thấy không có mối liên hệ nào giữa lượng vitamin C và nguy cơ ung thư phổi.

Sự thiếu hụt

Khi chế độ ăn uống không đủ vitamin C, quá trình sản xuất collagen bị gián đoạn và không thể thay thế lượng collagen cần thiết, dẫn đến sự phân hủy các mô.

Điều này dẫn đến tình trạng sức khỏe được gọi là bệnh còi, có thể trực tiếp do thiếu Vitamin C. Các triệu chứng của bệnh còi có thể bao gồm:

Đau cơ, đặc biệt là ở chân

  • Đau khớp
  • Mệt mỏi
  • Đỏ trên da
  • Nướu bị sưng và có thể chảy máu
  • Khó thở

Tất cả các vitamin C cần thiết cho các chức năng bình thường của cơ thể cần đến từ việc tiêu thụ chế độ ăn uống hàng ngày, vì nó không thể được sản xuất hoặc lưu trữ trong cơ thể.

Mặc dù sự thiếu hụt vitamin C và dẫn đến các triệu chứng của bệnh còi là không phổ biến trong xã hội ngày nay, nhưng tỷ lệ này lại cao hơn ở những nhóm dân cư đặc biệt ít tiếp cận với trái cây tươi và rau quả. Những người cao tuổi, nghiện ma túy hoặc có thu nhập thấp dễ bị hơn.

Rủi ro của Vitamin C

Tiêu thụ một lượng lớn vitamin C không được coi là mối quan tâm lớn đối với sức khỏe vì nó là một loại vitamin hòa tan trong nước được bài tiết qua nước tiểu khi dùng quá mức. Tuy nhiên, nó có thể gây ra các triệu chứng với liều cao (hơn 2000mg mỗi ngày) như:

  • Lợi tiểu
  • Bệnh tiêu chảy
  • Khí ga
  • Buồn nôn

Vitamin C cũng làm tăng hấp thu sắt từ thức ăn. Mặc dù điều này có thể là một khía cạnh có lợi ở một số dân số, nhưng những người bị bệnh huyết sắc tố sẽ có nhiều khả năng tích tụ sắt trong cơ thể hơn và nên tránh bổ sung vitamin C.

Ngoài ra, phụ nữ mang thai không nên dùng liều lượng lớn vitamin C, vì trẻ sơ sinh có thể mắc bệnh còi xương hồi phục khi sinh do lượng vitamin C giảm.

Tương tác thuốc

Vitamin C có thể làm chậm quá trình bài tiết estrogen ra khỏi cơ thể. Uống vitamin C cùng với estrogen hoặc các biện pháp tránh thai dựa trên estrogen có thể làm tăng nguy cơ tác dụng phụ của nội tiết tố.

Điều ngược lại có thể xảy ra với thuốc chống loạn thần Prolixin (fluphenazine). Khi dùng chung, vitamin C có thể làm giảm nồng độ Prolixin trong máu và giảm hiệu lực của thuốc. Bổ sung vitamin C cũng có thể làm cho một số loại thuốc hóa trị kém hiệu quả hơn.

Để tránh tương tác, hãy cho bác sĩ biết nếu bạn đang dùng hoặc dự định dùng vitamin C với bất kỳ loại thuốc nào trong số này.

Nguồn tham khảo: 

Nguồn en.wikipedia: https://en.wikipedia.org/wiki/Vitamin_C, cập nhật ngày 21/2/2021.

Nguồn uy tín NhaThuocLP: https://nhathuoclp.com/glossary/vitamin-c/, cập nhật ngày 5/3/2021.

This entry was posted in . Bookmark the permalink.
Call Now Button